Quản Lý Nước & Dinh Dưỡng

Sản xuất nông sản bằng phương pháp thủy canh, nước tưới được pha với dinh dưỡng để bón cây. Do vậy, quản lý việc bón phân cũng là phải quản lý luôn nguồn nước tưới. Việc quản lý nước tưới và dinh dưỡng tập trung vào việc cung cấp tối ưu nguồn nước và chất dinh dưỡng trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây, để tối đa hóa năng suất thông qua việc thay đổi môi trường phát triển trong cả năm.

Nước – Chất lượng nước

Cây trồng chứa 80-90 phần trăm là nước, và tính sẵn có nguồn nước chất lượng là rất quan trọng để sản xuất cây trồng thành công. Chất lượng nước được xác định bởi những gì được chứa trong nước tại nguồn cung cấp (giếng, hầm chứa, nguồn của chính quyền) và nồng độ axit hay kiềm của nước.

Nước là một dung môi, và như vậy, nó có thể chứa hoặc giữ một số lượng muối hòa tan nhất định trong dung dịch. Bản chất tự nhiên của phân bón là muối hòa tan, và người trồng hòa tan phân bón trong nước để thu được dung dịch dinh dưỡng để cung cấp cho cây trồng đầy đủ dinh dưỡng.

Trước khi sử dụng bất kỳ nguồn nước cho sản xuất vụ mùa, điều quan trọng là phải kiểm tra chất lượng nước. Kiểm tra chất lượng nước xác định nhiều loại muối khác nhau thường liên quan với mối quan tâm chất lượng nước.

Nồng độ muối mong muốn tối đa, tính bằng phần triệu (ppm). Phần triệu là một đơn vị đo lường của các ion hòa tan, hoặc muối trong nước, và cũng được sử dụng để đo lường mức độ của các muối phân bón hòa tan trong dung dịch dinh dưỡng. Mức độ các chất dinh dưỡng như các ion hòa tan trong nước cũng có thể được tính bằng miligam/lít của dung dịch. Có một mối quan hệ trực tiếp giữa miligam/lít (mg/L) và ppm, trong đó 1 mg/L = 1 ppm. Một đơn vị phổ biến đo cho muối phân bón hòa tan là mmol (mM). Kiểm tra chất lượng nước cũng sẽ báo cáo pH, độ axit hay kiềm của nước.

Một khi nguồn nước đã được xác định là phù hợp cho sản xuất cây trồng nhà kính, thì việc kiểm tra theo định kỳ cũng rất quan trọng để đảm bảo bất kỳ biến động về chất lượng nước có thể xảy ra mà không gây ảnh hưởng đến sản xuất cây trồng.

Độ dẫn điện của nước
Kiểm tra chất lượng nước cũng phải phân tích độ dẫn điện hoặc EC của nước. Khả năng của nước dẫn điện phụ thuộc vào số lượng của các ion hoặc các muối hòa tan trong nước. Lượng muối hòa tan trong nước càng lớn hơn, thì nước càng dễ dẫn điện hơn.

Độ dẫn điện là một biện pháp đo lường gián tiếp về mức độ muối trong nước và có thể là một công cụ hữu ích cho cả việc xác định sự phù hợp của nước nói chung cho sản xuất vụ mùa và cho các giám sát liên tục các giải pháp dinh dưỡng. Sử dụng tính dẫn điện như một biện pháp để duy trì E.C mục tiêu trong dung dịch dinh dưỡng và vùng rễ có thể là một công cụ quản lý để đưa ra quyết định liên quan đến việc cung cấp các giải pháp phân bón cho cây trồng.
Độ dẫn điện được đo và báo cáo bằng cách sử dụng một số đơn vị đo lường bao gồm millimhos/cm (mmho/cm), millisiemens mỗi centimet (mS/cm) hoặc microsiemens mỗi cm (iS/cm). Nước thích hợp cho cây trồng có EC không quá 1.0 mmho/cm.

Độ pH

Tính kiềm và axit của nước được thể hiện qua độ pH, và được đo trên thang đo từ 0 đến 14. Số càng thấp, nước càng mang tính axit hơn; số càng cao, tính kiềm nhiều hơn. Độ pH là một thang đo lôgarít, nghĩa là mỗi sự gia tăng của một số, ví dụ từ 4 lên 5, thể hiện sự gia tăng lên gấp mười lần trong kiềm. Ngược lại, mỗi lần giảm một số, tức từ 5 xuống 4, thể hiện cho một sự gia tăng gấp mười lần trong axit.

Hầu hết các nguồn nước từ nguồn nước máy mang tính kiềm, với độ pH điển hình của 7.0-7.5. Độ kiềm của nước tăng lên cùng với sự gia tăng mức bicarbonate. Việc đo pH phản ánh tính chất hóa học của dung dịch nước và chất dinh dưỡng. PH của dung dịch dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến việc xác định độ tan của các chất dinh dưỡng và cây trồng có dùng được chất dinh dưỡng ấy hay không.

Độ pH tối ưu của một giải pháp dinh dưỡng nằm trong phạm vi của 5.5-6.0. Độ pH của một giải pháp dinh dưỡng có thể được điều chỉnh thông qua việc sử dụng các axit như phosphoric hoặc axit nitric, hoặc kali cacbonat, tùy thuộc vào tình huống nào. Khi axit hoặc kiềm được sử dụng để điều chỉnh độ pH của dung dịch dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng bổ sung bởi các axit (nitơ, phốt pho) phải được tính toán khi bón phân. Nước máy có tính kiềm thì yêu cầu sử dụng axit để chỉnh pH. Lượng axit để điều chỉnh độ pH luôn phụ thuộc vào mức bicarbonate (HC03-) trong nước.

Lượng bicarbonate trong nguồn nước có thể được xác định bằng cách phân tích nước và được báo cáo trong phần triệu (ppm). Độ pH mục tiêu cho giải pháp dinh dưỡng là 5.8, và như là một quy luật chung, và mức bicarbonate tương ứng với độ pH này khoảng 60 ppm. Nếu nguồn nước có độ pH là 8.1 và mức bicarbonate là 207 ppm, thì 207 ppm – 60 ppm = 147 ppm của bicarbonate, cần phải được trung hòa bằng axit làm giảm pH từ 8.1 xuống còn 5.8

Để trung hòa 61 ppm hoặc 1 milliequivalent bicarbonate, phải mất khoảng 70 ml axit photphoric 85%, tương đương khoảng 76 ml axit nitric 67% trên 1.000 lít nước. Để trung hòa 147 ppm của bicarbonate, các phương pháp sau đây có thể được sử dụng:

Sử dụng axit photphoric 85%:
140/61 = 2,3 milliequivalents bicarbonate để được trung hoà.
2.3 milliequivalents x 70 ml dung dịch axit photphoric 85% cho mỗi milliequivalent = 2.3 x 70 ml = 161 ml axit photphoric 85% cho mỗi 1.000 lít nước.

Sử dụng axit nitric 67%:
2.3 milliequivalents bicarbonate để được trung hoà.
2.3 milliequivalents x 76 ml mỗi milliequivalent = 2.3 x 76 ml = 175 ml axit nitric 67% cho mỗi 1.000 lít nước.

Những tính toán này phải được thực hiện đối với từng mẫu nước dựa trên kết quả phân tích nước với báo cáo về lượng bicacbonat. Ngoài photphoric và axit nitric, axit sulfuric và axit hydrochloric cũng có thể được sử dụng để điều chỉnh giảm độ pH của nước.

Axit có tính ăn mòn. Cần phải lưu ý đặc biệt khi dùng chúng để điều chỉnh pH. Các axit thường được sử dụng để làm giảm độ pH là axit phosphoric (85%) và axit nitric (67%). Trong hai loại trên, axit nitric là loại ăn mòn cao nhất phải được xử lý rất cẩn thận. Axít phải được đựng trong bình bằng kính, dùng găng tay cao su và một cái tạp dề cao su là thiết bị an toàn tối thiểu khi sử dụng axit. rau thủy canh, hệ thống thủy canh, trồng rau trong nhà kính, nhà màng trồng trọt, nhà màng, nhà kính, nhà lưới, quang hợp, thiết kế nhà kính, trồng rau trong nhà màng, trồng rau trong nhà lưới, nhà màng trồng rau, nhà kính trồng rau, thiết kế nhà màng